VUENGLISH - KNOWLEDGE SHARING - CONTENT-BASED APPROACH TO VOCABULARY ACQUISITION

Trong chương trình học của TẠP, kha khá chủ đề (nhất là những chủ đề xếp phía cuối) được chọn để dẫn dắt học viên sâu hơn nữa theo hướng nạp từ vựng & phát triển cảm nhận ngôn ngữ qua Content-based approach như một cách định hướng cho họ con đường tự học sau khi ra khỏi lớp.

Với định hướng này, các cấu trúc từ cụ thể không còn là explicit focus, mà thay vào đó, tập trung khai thác những nội dung non-linguistic mà người học (hopefully) thấy thú vị và muốn tìm hiểu sâu hơn, thông qua hàng loạt clip (ví dụ chủ đề TIME TRAVEL hay PSYCHOLOGY) hoặc bài đọc bổ trợ (chủ đề SKINCARE hay FITNESS).
Về mặt xử lý thông tin, quan sát cách giáo viên tổ chức bài giảng cho học viên ý tưởng khi tiếp cận một chủ đề mới sao cho hệ thống & tuyến tính để nạp lượng thông tin lớn nhất trong thời gian nhanh nhất. Tiếp cận thế nào để, ví dụ khi đối mặt với một lượng thông tin khủng & bát nháo trên thị trường SKINCARE hiện nay với đủ loại sản phẩm, "tinh chất" & "công nghệ" mới tung ra hàng năm, học viên vẫn không rối, biết mình cần bắt đầu từ đâu và theo các bước thế nào để chọn sản phẩm vừa hiệu quả, vừa không lãng phí tiền, không chỉ cho bản thân mà cả những người xung quanh.
Về mặt nạp từ vựng, ở cấp độ cao hơn, mục tiêu không còn đơn giản là nhớ được nghĩa của một cấu trúc nhất định & những ngữ cảnh cụ thể mà cấu trúc đó xuất hiện, mà người học cần phát triển cảm nhận TMRND (theo lối thẩm thấu, by osmosis, như cách mà người bản xứ cảm nhận) đồng thời có khả năng ứng dụng, thậm chí sáng tạo, khi dùng cấu trúc đó trong những tình huống hoàn toàn mới mà người bản xứ đọc vẫn hiểu và thấy tự nhiên.
Để đạt mục tiêu này, từ góc độ neural network, mạng lưới từ vựng của học viên phải được "trained" với lượng dữ liệu đầu vào (authentic input) đủ lớn và đa dạng, tích lũy dần theo thời gian - chính là cách mà content-based approach được thiết kế, thay vì tập trung học list từ riêng lẻ hoặc những giáo trình chuyên về từ vựng.

Để hấp dẫn học viên, chủ đề được chọn cần lồng ghép rất nhiều nội dung thiết thực để giúp các bạn giải quyết những vấn đề thường gặp trong cuộc sống - qua đó càng thấm và nhớ lâu hơn kiến thức tiếng đã học.

Ví dụ như PSYCHOLOGY. Nhiều bạn lầm tưởng trước khi học là chủ đề này tập trung vào vấn đề "điều trị tâm thần", nhưng học mới thấy nó chạm đến kha khá khía cạnh gần gũi của đời sống. Từ việc bị "thao túng tâm lý" khi đi siêu thị cho đến "thao túng tâm lý" khi đi xem bói (bạn nào học chủ đề này rồi mà đi xem tiền/hậu vận vẫn cảm thấy "thầy phán như thần" thì quả thực có vấn đề về... tâm lý). Từ việc nên làm gì khi trong mối quan hệ, tình cảm giữa hai người không còn được như xưa, đến việc nên giải tỏa tâm lý thế nào mỗi khi bực bội, có nên đập bát đĩa hoặc (more satisfyingly) tát bạn trai (???) Nó thậm chí đề cập đến existential questions kiểu như "Trong con người ta, phần tốt/phần người nhiều hơn hay phần xấu/phần con nhiều hơn? v.v... Từ góc độ giáo viên TA, nó còn cho các bạn thấy bản thân tôi ứng dụng tâm lý học thế nào vào việc "kích" học viên tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn và ghi nhớ lâu hơn, v.v...

Ví dụ khác là SOCIOLOGY. Tôi đã nhận được phản hồi của một số học viên nam áp dụng kiến thức về gender communication trong chủ đề này để cải thiện mối quan hệ với mẹ, với vợ, với bạn gái, hay như dưới đây, với em gái:

Lí do thật sự thúc đẩy  em phải viết email này là em muốn cảm ơn thầy vì qua bài giảng của thầy mà em có thể hiểu rõ em gái của em hơn và bọn em có thể nói chuyện với nhau hàng giờ liền (thông thường bọn em chỉ nói được với nhau tầm 5p, sau 5p bọn em bắt đầu cãi nhau nảy lửa).

Cụ thể, trong khi tranh luận bất cứ chủ đề gì (tình yêu, định hướng công việc, quan điểm sống), dù em có đưa ra lời khuyên như thế nào, đúng đắn ra sao thì em gái em luôn tìm cách chống đối lại quyết liệt và kết quả là cuộc nói chuyện bình thường thành cuộc cãi vã.

Nhưng sau khi được học section về sự khác biệt giữa nam và nữ của thầy, em bắt đầu hiểu lí do tại sao em gái em không hề quan tâm đến những gì mà em khuyên bảo. Từ đó em tìm cách tiếp cận hoàn toàn khác, em hiểu thứ em gái em cần không phải là lời khuyên từ anh trai mà là sự an ủi, động viên và sau khi được em an ủi thì em gái em dễ dàng tiếp nhận những gì mà em muốn nói hơn.

Có thể thầy sẽ thấy là anh trai với em gái thì khó nói chuyện cũng là việc bình thường, nhưng với em giải quyết được vấn đề này lại có ý nghĩa vô cùng lớn. Vì trong gia đình em không chỉ là người anh trai mà còn đảm nhận nhiệm vụ mà bố em để lại là phải bảo ban và dạy dỗ em gái của mình. Nên thật sự em cảm ơn thầy rất nhiều. Dưới đây là đoạn tin nhắn vui giữa em và em gái mà em muốn chia sẻ với thầy (nội dung là em gái em rất ngạc nhiên tại sao dạo này anh khuyên gì em cũng nghe mà nghe rất lọt tai).  Trong tin nhắn có nhắc đến thầy vì em có chia sẻ vài tips chăm sóc da mà thầy dạy bọn em ở buổi SKINCARE :))

Kết hợp với các hoạt động khác của lớp, đào sâu tiếng Anh theo chủ đề khiến cảm nhận của bạn về ngôn ngữ này dần dần thay đổi. Bạn không còn thấy nó là một môn học với những chia động từ, đổi số ít số nhiều, viết câu đơn câu phức nữa, mà là một thứ tiếng đa sắc màu, giàu sắc thái không kém gì tiếng Việt, như phản hồi "khi đến lớp TẠP của thầy, em mới có một cảm xúc kì lạ về tiếng Anh" của một học viên - bác sĩ dưới đây.

Vấn đề khúc mắc nhất của bài giảng thiên về content-based chính là: nếu nó thất bại trong việc inspire học viên thì họ sẽ thấy bài học thực sự vô bổ. Vì thế nếu bạn không thích nghe về du hành thời gian hay không hề quan tâm đến dưỡng da, bạn sẽ có cảm giác: vậy mình thu được gì từ những buổi học liên quan?
Đây là một rủi ro mà người giáo viên dạy tiếng phải chấp nhận bởi vì "there is no pleasing everyone". Không có chủ đề nào gợi hứng thú cho tất cả mọi người, và tôi chỉ có thể dựa vào ý kiến số đông để chọn. Những chủ đề rốt cuộc được dùng phải là những chủ đề được thời gian và bao nhiêu thế hệ học viên kiểm định. Và tôi cũng đành xin lỗi một số ít hơn các bạn mà không theo khuynh hướng chung. (tham khảo chi tiết hơn tranh luận liên quan ở Appendix B cuối note này)

Appendix A.

Question: Em muốn hỏi về Osmosis / Content-based approach ạ. Thầy có nói "người bản ngữ khi gặp một cụm từ mới, họ có thể cảm nhận được độ tự nhiên không phải vì người ta đã từng gặp nó trước đây, mà có thể vì người ta đã tiếp xúc với những cụm từ tương tự, có mức độ tương đồng..."

Em chưa hình dung được là khi gặp một từ mới mà chưa từng gặp bao giờ thì bằng cách nào có thể cảm nhận được mức độ tự nhiên của nó ạ? (Bởi vì theo em nghĩ để cảm nhận được mức độ tự nhiên của một từ/cụm từ mới thì họ phải gặp nó nhiều lần trong những contexts tương tự nhau để tự cảm nhận được. Điều này lại phù hợp với những gì thầy nói ở đoạn sau là phải có lượng input/context lớn.)

Tuy nhiên ngay sau đó thầy có nói là họ đã gặp những cụm từ tương tự/tương đồng, vậy điều này chỉ đúng với cụm từ, hay đúng với cả từ ạ? Thầy có thể giúp em lấy ví dụ cho sự "tương tự/tương đồng" này để em dễ hình dung hơn được không ạ?


Responses: Phần này tôi sẽ trả lời hơi technical và toán học một chút.

Giả sử em chỉ gặp cấu trúc từ tạm label là A1 (về nguyên tắc A1 có thể đóng bất cứ vai trò gì về ngữ pháp và linh hoạt về độ dài - từ đơn lẻ, cụm từ, thành ngữ và các mẫu câu bán cố định v.v...) trong tình huống authentic B1, B2 & B3 và chưa từng gặp A1 trong tình huống B4. Do ko phải là người bản ngữ, có thể em ko dám chắc chắn là A1 có sounds natural ở B4 hay ko.

Tuy nhiên nếu giả sử, em đã từng gặp A2, A3 & A4 trong ngữ cảnh B4 rồi, ngoài ra giữa A1 và A2-A4 có sự tương đồng nhất định về TMRND, và thậm chí em còn gặp chúng đều xuất hiện được trong một số ngữ cảnh chung như C1, C2 & C3.

Từ góc độ neural network, tất cả những input em từng có (tỉ như tương đồng giữa A1 vs. A2-A4, hay những ngữ cảnh chúng cùng có thể xuất hiện C1-C3, việc A2-A4 xuất hiện tự nhiên trong B4, thậm chí sự tương đồng nhất định giữa B4 vs. B1-B3 là những ngữ cảnh mà em đã biết A1 có thể xuất hiện tự nhiên v.v...) đều có thể dùng để đào luyện (train) lexical network của em, để đến khi em cần đưa ra quyết định có nên dùng A1 trong B4 không thì network này sẽ cho em feedback là OK, go ahead.

Kết quả là em cảm thấy "tự nhiên" khi dùng A1 trong B4 mặc dù nếu được yêu cầu giải thích rạch ròi, chưa chắc em đã giải thích được (đúng kiểu mà người bản xứ cảm nhận).

PS. Tất nhiên feedback trên hoàn toàn có thể ngược lại (vd No, it would sound weird) hoặc Not sure, not enough data to make a decision, hoặc một cấp độ chắc chắn in-between nào đó. Lối tiếp cận Content-based ở trên chính nhằm đảm bảo em có đủ dữ liệu đầu vào (dồi dào về số lượng và đa dạng về nội dung) để train the said lexical network.  

Follow-up question: Điều này có giải thích được chuyện là tuy em không phải là người bản xứ, nhưng em lại cảm nhận được nếu như mình dùng câu X nào đó trong ngữ cảnh Y nó không tự nhiên không ạ? 

Responses: Để cảm nhận theo chiều ngược lại, về nguyên tắc, em cũng cần từng ấy dữ liệu - thay vì tương đồng thì đảo lại thôi. Tất nhiên nó còn phụ thuộc vào trường hợp cụ thể. Nếu sự khác biệt quá rõ rệt thì ko cần nhiều dữ liệu trained bằng khi sự khác biệt tinh tế hơn (như khi cảm nhận khác biệt giữa các từ cùng nhóm đồng nghĩa đã thảo luận trong lớp TẠP)

Thường khi ko đủ input, kết luận thường gặp nhất là "ko chắc chắn có thể dùng được ko" ở cấp độ khác nhau tùy vào lượng dữ liệu.

Appendix B. Tranh luận về tính hữu ích của chủ đề học theo Content-based

Tiếp đây là một thảo luận liên quan về TIME TRAVEL - một chủ đề rất khoai và thường làm học viên mắt nhiều lần di chuyển về "vô cực" (nội dung cụ thể chủ đề này học cái gì xem Syllabus & Lesson Plan của lớp TẠP).

Khi lần đầu tiên đưa chủ đề này vào chương trình, do chưa thay đổi thời lượng của toàn khóa, tôi tạm bỏ qua một chủ đề truyền thống của TẠP - HUMOR dẫn tới tranh luận bắt đầu từ chuyện vẫn học HUMOR hay học TIME TRAVEL.

Việt Nguyễn: Ý kiến cá nhân của em thì có lẽ nên ưu tiên chủ đề HUMOR sẽ dễ tiếp cận hơn vs đa số ạ. Em chưa học chủ đề HUMOR nhưng từ cái tên và những chủ đề trc thầy đã trình bày thì em đoán nó sẽ hợp hơn. Điều này là bởi vì các chủ đề trc thầy thg đưa ra thông tin và ko giải thích quá sâu, nhưng những thông tin này điển hình đến mức ít ai trong lớp không thấy đc sự tồn tại của nó.
Ví dụ chủ đề SOCIOLOGY thầy chỉ đơn thuần đưa ra các biểu hiện khác nhau của nam lẫn nữ mà ko giải thích quá sâu (sâu ở đây ý em là kiểu như mình dựa trên sinh học, cấu trúc xã hội, tôn giáo để giải thích, kiểu như cuốn Lược sử lòai người). Hay chủ đề POLITICS, do các học sinh đã phần sinh sống ở VN nên có thể nhận thấy đúng là có những hiện tượng như Bắc Triều Tiên đã xảy ra mà ko cần giải thích sâu (dựa vào lịch sử, tôn giáo, học thuyết chính trị).
Nhưng ngc lại, TIME TRAVEL lại là một hiện tượng gần như là viễn tưởng vs hầu hết mọi ng và để nhận thấy đc nó phải đi sâu vào một nhánh chuyên ngành hẹp của vật lý. Em không phủ nhận rằng chủ đề này thú vị và học thêm điều mới là tốt, nhưng việc đưa quá nhiều kiến thức chuyên ngành vào một lớp trọng tâm vẫn là học ngôn ngữ có lẽ là ko hợp, vả lại giống như bất kỳ chuyên ngành nào khác, hiểu đc một hiện tượng phức tạp như vậy sẽ cần thời gian tích lũy nền tảng ko nhỏ và em nghĩ 04 tiếng là quá sức (chẳng thế mà ng ta dùng 7 năm phổ thông để xây nền này cho các hs muốn theo đuổi vật lý trc khi có thể bắt đầu tiếp cận vấn đề này ở đại học). Em cũng biết thầy sẽ thấy đổi cách dạy ở buổi tới nhưng em ko nghĩ là khoảng cách kiến thức 7 năm có thể được vượt qua trong 02h học.
Em cũng đã đọc các cmt của các bạn thì ko ít bạn cũng hơi ngợp trc chủ đề này mặc dù phầm đông vẫn tỏ ra thích thú. Trong bối cảnh thời lượng khóa có hạn, em thấy rằng việc cân nhắc giữa một bên thú vị nhưng khó hiểu dẫn đến khó tiếp thu, và một bên thú vị ko quá kém (em đoán vậy vì thầy đã cho vào ctr thì chắc là nó sẽ khó boring :))))) đồng thời dễ tiếp thu thì rõ ràng bên thứ hai đang nặng ký hơn.
Vũ Ngọc Lưu Ảnh: Bài hôm vừa rồi (về TIME TRAVEL) là bài em thích nhất từ đầu khóa tới giờ. Lần đầu tiên được nghe giảng mà em thấy thăng hoa với mở mang tầm mắt vậy luôn á thầy. Em ước gì mai mốt em cũng có thể cho học trò có được cảm giác tuyệt vời như vậy khi học. Chu choa mọa ui được giải thích cặn kẽ mọi thứ mình thắc mắc mọi thứ nó đã cái như lắm thầy. *mặc dù có nhiều cái trừu tượng quá em hổng hiểu nổi 😐😐😐* hehe
Việt Nguyễn: Em thì hơi khác bn trên là vì em ko có mục tiêu học tiếng để theo đuổi vc làm gv tiếng ạ. Đồng thời em cũng ko có ý định mở rộng thêm phạm vi học tập ra quá rộng, dù biết làm đc thì tốt nhưng thực dụng mà nói một chuyên ngành hẹp thôi cũng đã là ko nhẹ đối vs bất kỳ ai rồi.
Ngoài lề là em có phản hồi về cmt mà thầy vừa dẫn là việc giảng những thứ mà bản thân mình còn chưa hiểu cho ng khác thì thực sự quá NGUY HIỂM, và để trau dồi và hiểu đc thì có lẽ phải đánh đổi bằg những thứ khác vital hơn vs. gv tiếng Anh như nắm và áp dụng pp dạy tiếng, kỹ năng truyền đạt hay kiến thức về ngôn ngữ học.
Thanh Hà Nguyễn: Việt Nguyễn là một học viên cùng lớp với bạn, mình muốn nói như sau: lớp thầy Vũ là lớp dạy tiếng Anh/truyền đạt ý tưởng bằng tiếng Anh, thông qua nhiều chủ đề: chủ đề psychology, chủ đề politics, chủ đề time travel, v.v, chứ không phải lớp học về psychology, politics hay time travel.
Thông qua các chủ đề đó, thầy muốn spark the curious mind của học viên (tất nhiên không phải tất cả học viên đều thích tất cả chủ đề), để "inspire learners to learn more(,) using English as a platform" quote câu của thầy trong comment trước.
Việt Nguyễn: Việc đưa kiến thức chuyên ngành vào bài giảng trên mong muốn gợi cảm hứng cho hs tìm hiểu thêm chỉ nên dừng ở mức độ thông tin cơ bản mà ko giải thích quá sâu.
Thầy: Việt Nguyễn trước hết, những gì tôi truyền tải trong chủ đề TIME TRAVEL chưa có cái gì gọi là chuyên ngành cả, thậm chí còn chưa động đến một công thức vật lý lượng tử nào (ngoại lệ thì chắc chỉ có phương trình nổi tiếng của Einstein ở phần 2). Kiến thức truyền tải hoàn toàn là "da lông" và người ngoại đạo (ko phải là nhà vật lý học) cũng có thể tiếp thu.
Tôi nghĩ, chủ đề này khó không phải vì những thuật ngữ cao siêu kiểu wormhole, dark energy hay superposition, mà bởi vì chúng ta khó liên hệ trực tiếp chúng với trải nghiệm thực tế của bản thân (vốn giới hạn chủ yếu ở không gian ba chiều) dẫn tới cần suy luận và một chút tưởng tượng.
Nhưng "cái khó" này cũng có thể biến thành "cái khôn" khi chủ đề kiểu thế có thể giúp phát triển tư duy, khuyến khích mọi người vượt qua giới hạn của bản thân. Đầu tiên có thể không hiểu, nhưng khi bắt đầu vỡ ra - thì lại thấy rất thú vị. Tôi nghĩ đó là lý do tại sao nhiều bạn rất "inspired" với chủ đề này dù cấp độ hiểu bước đầu có khác nhau.
Quay trở lại một điểm quan trọng mà bạn Thanh Hà nhắc tới: cái main point ở đây ko phải là học về cái gì hay học đến mức độ nào, mà là tạo hứng thú để học viên tiếp tục tìm hiểu kiến thức mình quan tâm dùng tiếng Anh làm phương tiện. Nói cách khác, qua việc tìm hiểu đó, họ thật sự sử dụng tiếng Anh như một công cụ gắn liền với cuộc sống và học tập của bản thân thay vì chỉ coi nó như một môn học. Lúc ấy, "mối quan hệ" giữa bạn và tiếng Anh mới thật sự lên một cái tầm khác.
Phản hồi của bạn Vũ Ngọc Lưu Ảnh ở trên cũng xoay quanh điểm này: là giáo viên tương lai, bạn ấy chỉ mong muốn có thể inspire học viên của mình sau này theo cách tương tự. Vì vậy tranh luận rằng nhu cầu của em khác do em không phải là giáo viên, rồi bạn cần kiến thức liên quan đến chủ đề được dạy ở mức nào, tôi thấy không thật sự đi đúng hướng.
Tôi cũng hiểu, từ góc nhìn một buổi học tiếng là phải "học tiếng" - học viên phải học được một số lượng từ nhất định, hay một số cấu trúc ngữ pháp cụ thể, thì những buổi lệch hẳn về content-based như TIME TRAVEL có thể không đáp ứng nhu cầu đó.
Đó là lý do tại sao tôi tránh dùng quá nhiều và khi dùng thì thường xếp những buổi dạng này ở cuối khóa (một cách ngầm chỉ con đường các bạn nên phát triển tiếp kỹ năng tiếng thế nào khi ra khỏi lớp). Từ vựng giải thích ở những buổi như thế cũng hạn chế hơn nhiều so với các buổi khác (do mục tiêu hướng tới khác nhau). Nói cho cùng, biết nhiều từ vựng/thuật ngữ riêng của TIME TRAVEL cũng đâu có ứng dụng gì nhiều cho việc học tập/viết bài sau này của các bạn đâu. Vì vậy những gì tôi nhắc đến là những gì cần thiết để các bạn hiểu và có hứng thú với chủ đề mà thôi.
Không nói đâu xa, chủ đề tiếp theo của TẠP (SKINCARE) cũng lệch hẳn về content-based và cũng từng gây tranh cãi kịch liệt trong TẠP các khóa trước dù phần lớn học viên, đặc biệt là học viên nữ, cực kỳ yêu thích chủ đề này: học thêm hiểu biết về skincare hay là học tiếng Anh?
Không có câu trả lời đúng duy nhất trong những tranh luận kiểu này, vì mỗi người mỗi nhu cầu và mỗi quan điểm.
Cái khúc mắc nhất của bài giảng thiên về content-based chính là: nếu nó thất bại trong việc inspire học viên thì họ sẽ thấy bài học thực sự vô bổ. Vì thế nếu em không thích nghe về du hành thời gian hay không hề quan tâm đến dưỡng da, em sẽ có cảm giác: vậy em thu được gì từ những buổi học trên?
Đây là một rủi ro mà người giáo viên dạy tiếng phải chấp nhận bởi vì "there is no pleasing everyone". Không có chủ đề nào gợi hứng thú cho tất cả mọi người, và tôi chỉ có thể dựa vào ý kiến số đông để chọn. Những chủ đề rốt cuộc được dùng phải là những chủ đề được thời gian và bao nhiêu thế hệ học viên kiểm định. Và tôi cũng đành xin lỗi một số ít hơn các bạn mà không theo khuynh hướng chung.
PS. Đưa vào chương trình một vài chủ đề mạo hiểm hơn như TIME TRAVEL (to get you out of your comfort zone) hay chỉ dùng toàn những chủ đề nằm trong "comfort zone" chung của học viên như HUMOR rõ ràng đều có cái được và cái mất.
Nhưng dù mạo hiểm thì vẫn cần có cơ sở. Tôi vẫn dùng TIME TRAVEL cho đến bây giờ là dựa vào phản hồi của ko biết bao nhiêu bạn khi còn dùng chủ đề này cho NGỌNG trong khoảng thời gian 5-6 năm trước. Số người "don't get it" sẽ luôn có, nhưng phần lớn hơn nhiều thấy nó rất thú vị và đáng tìm hiểu thêm. Rất nhiều bạn phản hồi là sau đó tìm đọc sách của Stephen Hawking, xem thêm phim về Time Travel - đúng như mục đích "to inspire learners" đã đặt ra.
Vì thế tôi cũng rất tin vào mức hấp dẫn của nó ở TẠP (chỉ riêng số lượng comment phản hồi về chủ đề này trên FB của lớp trong hai ngày vừa qua cũng là early evidence cho niềm tin này). Tôi chỉ cần thêm thời gian điều chỉnh sao cho nó hợp với phong cách giảng ở TẠP hơn.
Để so sánh, chủ đề HUMOR dùng cho TẠP từ đầu, dù cũng hay và funny, nhưng chưa bao giờ nhận được phản hồi nhiệt tình như thế, có lẽ vì nó không đem lại cho học viên nhiều thông tin mới và "kích thích" đến thế 😉
Tóm lại học viên có thể và được khuyến khích phản hồi negative về chủ đề nào mà họ ko thích, nhưng tôi sẽ luôn đi theo ý kiến số đông. Nếu số lượng phàn nàn chiếm ưu tế (thậm chí ko cần chiếm ưu thế mà chỉ cần chiếm một phần đáng kể so với tích cực), tôi sẽ loại trừ ra khỏi chương trình học không thương tiếc.

Class FAQ: https://vuenglish.com/

Comments

Popular posts from this blog

Class FAQ

Lịch đăng ký và khai giảng lớp mới

Syllabus & Lesson plan của THIỂU