VUENGLISH - KNOWLEDGE SHARING - QUESTION ABOUT TEACHER CREDENTIALS

(giật tít) "Thầy ơi em muốn học nhưng em hoài nghi khả năng tiếng anh của thầy, thầy có thể public điểm IELTS của thầy không ạ"

Tạm thời bỏ qua tít được giật, trước hết là trả lời của tôi với phản hồi của một bạn về câu hỏi phân biệt GAMBLE vs. BET.

Q: Em có thắc mắc về thằng BET vs GAMBLE trong hoạt động cá cược. Sau khi em đi tìm hiểu 1 xíu, người ta nói BET sẽ được socially accepted hơn 1 chút còn GAMBLE thì ngược lại. BET thường được dùng cho thể thao, còn GAMBLE chủ yếu sẽ xu hướng xấu và nghiện.
Để check thì em ngram thử các từ xấu như charges, illegal, và addiction thì thấy cũng đúng (xem hình). Không biết thầy thấy sao ạ?

PS: Lúc đầu em có thắc mắc là tại sao thầy không đưa GAMBLE vào chung với các thằng này (xem hình), trong context cá cược tiền bạc, do em thấy GAMBLE nó có vẻ giống với thằng WAGER, tần suất sử dụng GAMBLE cũng hao hao WAGER (cả 2 đều ít hơn hẳn BET). Mà tìm một xíu thì em thấy GAMBLE nó sử dụng khác hẳn. Nó nói về hoạt động cá cược nói chung, trong khi BET với WAGER thì nói về cái số tiền đặt trong các hoạt động đó. Không biết em hiểu vậy đúng không ạ?
(câu hỏi đặt trên FB lớp TẠP)

Responses: có lẽ cần phân biệt GAMBLE vs. BET (và những cụm từ mang hàm ý giống BET nhưng khác tone) ở 2 cách sử dụng chính.
1. Nghĩa cá cược hoặc đánh bạc - nghĩa mà em thắc mắc.
Theo tôi hiểu thì GAMBLE là một thuật ngữ bao trùm, chỉ cả một quá trình hay lối sống (từ thói quen, tâm lý ăn thua, rủi ro liên quan, thậm chí hậu quả v.v...) còn các từ liệt kê trong slide nhấn mạnh vào một hoạt động trung tâm của quá trình này - cá một số tiền nhất định cho một khả năng nào đó. Kiểu như chúng ta phân biệt CỜ BẠC vs. CÁ CƯỢC trong tiếng Việt.

Từ sự khác biệt đó, nếu em muốn phê phán một tệ nạn xã hội nói chung hoặc ai đó bị bắt vì tội CỜ BẠC thì GAMBLE sẽ là từ thích hợp hơn (arrested on GAMBLING charges), còn nếu khoe hôm qua vừa trúng con lô bao nhiêu thì BET sẽ là từ phổ dụng hơn (nhưng nếu tán gia bại sản vì lô đề - cả một quá trình - thì lại quay về GAMBLE - He GAMBLED AWAY his fortune).
Cũng chính từ khác biệt này, điều dễ hiểu là GAMBLE thường bị nhìn dưới góc độ đánh giá phán xét nhiều hơn và do đó mang sắc thái [ON] hơn so với BET.
Tuy nhiên, đừng quên theo lý thuyết Synecdoche của TẠP thì hoạt động bộ phận (BET) có thể dùng đại diện cho toàn bộ quá trình GAMBLE, dẫn tới ranh giới giữa đâu là overall process và đâu là component event nhiều khi không dễ phân biệt, khiến cho người dùng cảm thấy rối.

PS. Em có tự thấy phần giải thích trên tương thích với các lược đồ tần số em đã liệt kê, mà không cần phải loằng ngoằng vụn vặt như kiểu "BET sẽ được socially accepted hơn 1 chút còn GAMBLE thì ngược lại. BET thường được dùng cho thể thao, còn GAMBLE chủ yếu sẽ xu hướng xấu và nghiện."

2. Nghĩa thể hiện phán đoán: cả GAMBLE và BET đều có thể dùng trong ngữ cảnh liên quan, nhưng GAMBLE nhấn mạnh vào rủi ro/được mất (risk) còn BET lại nhấn vào mức độ chắc chắn/khả năng xảy ra (probability).
She GAMBLED that we would win the bid. (lỡ mà cô ấy dự đoán sai kết quả thì công sức tiền bạc bỏ vào uổng hết)
vs.
I BET that you would fail the exam. (tôi khá chắc là cậu sẽ thi trượt)

Sau câu trả lời trên thì có một bạn phản hồi như sau
Responses
1. Từ góc độ người học tiếng, bạn có thể thấy phân tích của tôi dài dòng và/hoặc phức tạp hóa không cần thiết, nhưng từ góc độ giáo viên, tôi thường cố gắng bao quát trong giải đáp của mình các trường hợp cụ thể khác nhau.
Phân tích của tôi không chỉ giải thích được các lược đồ tần số cho những trường hợp tách biệt mà người hỏi gửi kèm trong câu hỏi, mà còn giải thích tại sao GAMBLE thường có negative connotations so với BET, hay tại sao dù BET chỉ là một bộ phận của GAMBLE mà học viên tiếng Anh vẫn dễ bị lẫn lộn.

2. Khi bạn nói BET là dùng trong văn nói còn WAGER là văn viết, có vẻ như bạn bị nhầm lẫn giữa hai khái niệm tone (Informal vs. Formal) và mode (Written vs. Spoken).
WAGER là một từ Formal hơn BET, nhưng không có nghĩa là nó chỉ dùng khi viết. Trong clip minh họa cho từ này ở TẠP, ngữ cảnh là cô gái phát hiện ra một nhóm bạn của mình cá cược với nhau xem bao giờ thì cô và bạn trai chia tay, và tệ hơn, chính bạn trai của cô cũng tham gia vụ đánh ca này. Cô đã quát vào mặt anh kia "You would WAGER against our love?" Ở đây dù là nói, nhưng cô gái dùng một từ có tone formal hơn để nhấn mạnh tính chất nghiêm trọng của vấn đề.
Ngược lại, BET là một từ Neutral cả về tone lẫn mode, nên nó được dùng thường xuyên ở cả nói và viết, chứ không chỉ có nói.

3. Bạn dường như cho rằng người bản xứ không nhất thiết phải hiểu rõ sự phân biệt nằm đằng sau các từ mà dùng nó theo bản năng cảm nhận. Điều này tôi không phủ nhận.
Nhưng non-native learners, người chưa có được bản năng dùng từ này, muốn dùng đúng, đặc biệt là ở những ngữ cảnh mới, họ cần hiểu được quy luật hay sự khác biệt nằm bên dưới. Và nhiệm vụ của người giáo viên là giải thích được cho học viên hiểu, chứ không phải lần nào cũng "Người bản xứ dùng như thế thì cứ dùng theo đi." Đây cũng là khác biệt quan trọng giữa giáo viên có đào tạo về ngôn ngữ (bản xứ hay không) và người bản xứ đi dạy tiếng Anh tay ngang.
Tất nhiên tôi cũng thừa nhận mục tiêu trên chỉ mang tính chất ngắn hạn. Mục tiêu lâu dài vẫn là làm sao để non-native learners có thể dần dần tiếp cận cách dùng từ theo bản năng như người bản xứ.
Đây là lý do tại sao TẠP khuyến khích học viên áp dụng content-based approach trong quá trình nạp từ. Phương pháp này được thiết kế để, từ góc độ neural network, mạng lưới từ vựng của học viên được "trained" với lượng dữ liệu đầu vào (authentic input) đủ lớn và đa dạng, tích lũy dần theo thời gian, giúp người học phát triển cảm nhận TMRND theo lối thẩm thấu (by osmosis) như cách mà người bản xứ cảm nhận, để có khả năng ứng dụng, thậm chí sáng tạo, khi dùng từ trong những tình huống hoàn toàn mới mà người bản xứ đọc vẫn hiểu và thấy tự nhiên.
Điều này rõ ràng giúp bạn trở thành một người dùng ngôn ngữ tốt hơn (nhưng một lần nữa: chưa đủ cho một giáo viên dạy ngoại ngữ).

4. Việc tiếp cận vấn đề một cách hệ thống không chỉ giúp trả lời những thắc mắc cụ thể của người hỏi, mà còn có tiềm năng dự trước và chặn trước (predictive & pre-emptive) những thắc mắc khác trong tương lai.
Đừng quên, các giải thích đưa ra đều mang tính giả thuyết, dựa trên dữ liệu thực tế và suy luận logic, chứ không có cái gì là chân lý bất di bất dịch, nhất là trong một phạm trù đa dạng và luôn biến động như ngôn ngữ.
Điều này dẫn tới hai điểm quan trọng
4.1 Giả thuyết đưa ra có thể dùng (generalized) để giải thích các dữ liệu còn chưa được dùng làm mẫu trong quá trình phân tích hay không.
Từ góc nhìn này, điều bạn có thể giúp tôi là: thay vì nói theo cảm nhận chủ quan là tôi trả lời phức tạp, hay tìm cho tôi các ví dụ từ những nguồn đáng tin cậy mà bạn cho rằng lý thuyết của tôi không giải thích được - để tôi có thể phản biện và/hoặc điều chỉnh giả thuyết của mình sao cho nó tốt hơn (bản thân tôi cũng đã phản biện trả lời của bạn ở mục 2&3 đấy thôi).
Đây cũng chính là điều mà học viên cũ đã giúp được tôi rất nhiều. Nếu bạn tham gia vào FB của một lớp bất kỳ nào, bạn sẽ thấy rất nhiều thắc mắc của các bạn theo hướng "Trong lớp thầy nói thế này, nhưng em thấy có bài báo/native youtuber/movie này lại có những ví dụ như thế kia, thì vấn đề là ở đâu?"
Khi đó hoặc tôi lý giải cho họ thấy giả thuyết tôi đưa ra thực tế vẫn dùng để giải thích những ví dụ tưởng như ngoại lệ này, hoặc tôi tìm cách tinh chỉnh lại lý thuyết để cover nốt những trường hợp trên.

4.2 Giả thuyết cạnh tranh (competing hypotheses).
Khi tôi đưa ra một giả thuyết, đương nhiên người khác có thể đưa ra giả thuyết thay thế. Và tương tự như 4.1, tôi có thể tìm cách phản biện.

Để hiểu rõ điều này, hãy xem xét ví dụ phân biệt DESPITE vs. ALTHOUGH dưới đây
Q. Em hỏi về sự khác nhau giữa Although / While và Despite (the fact that) / In spite of.
Em có học khóa IELTS của Simon và thầy ấy nói là:
In conclusion, IN SPITE OF the drawbacks, global tourism has brought more benefits. (Sai)
-> Câu này dùng “in spite of” ở đây sai do "in spite of" không thể dùng để “compare two sides of an issue”, phải dùng although hoặc while.
In conclusion, WHILE it does have some drawbacks, global tourism has brought more benefits. (Đúng)
Nhưng thầy ấy lại nói là: “In conclusion, IN SPITE OF the drawbacks, I believe that the overall impact of global tourism is positive.” (Đúng)
Đến đây thì em rối quá nên cũng chỉ generalize rule là ưu tiên dùng While hoặc Although cho kết bài dạng này.
Em muốn hỏi:
1/ in spite of / despite (the fact that) chỉ mối quan hệ gì ạ?
2/ 2 cụm trên khác gì với although / while? (chỉ mối quan hệ contrast?)
3/ Đáng nói là trong slide 22 của thầy, từ điển Cambridge ngầm bảo là Although = despite the fact that. Như vậy không lẽ Although = despite the fact that =/= despite / in spite of sao ạ?

Responses
1. Nếu chỉ dựa vào định nghĩa chung chung trong từ điển thì nhiều khi không thấy được khác biệt nho nhỏ về sắc thái.
2. Sự khác biệt về chức năng ngữ pháp thì chắc đã rõ rồi. Theo tôi về mặt ý nghĩa thì DESPITE/IN SPITE OF là tập con của ALTHOUGH/WHILE (với hàm ý tương phản). Nghĩa là nếu dùng DESPITE được thì đổi sang ALTHOUGH được (tất nhiên phải thay đổi cấu trúc ngữ pháp tương ứng), nhưng ngược lại thì chưa chắc đã hợp lý.
3. Lý do là DESPITE/IN SPITE OF ngoài sắc thái chính CONTRAST, còn mang hàm ý lực cản: (DESPITE A, B) - B rốt cuộc vẫn xảy ra/tiến triển/hoàn thành/có kết quả dù A đóng vai trò lực cản (implicit or explicit) trong quá trình này.

Vì thế
3.1 Nếu chỉ đơn giản là so sánh parallel giữa A & B (mà thường gặp trong tranh luận là compare and contrast advantages & drawbacks) thì dùng DESPITE A, B sẽ thấy không hợp lý.
PS. Với tôi thì WHILE thể hiên PARALLELISM + CONTRAST rõ hơn là ALTHOUGH.

3.2 Tuy nhiên, nếu nói kiểu này: DESPITE X's drawbacks, people still prefer X (because of its benefits) thì lại ổn, do yếu tố lực cản đã trở nên rõ ràng.

3.3 Sẽ có những trường hợp mà cùng một ví dụ, hai người khác nhau có thể ko đồng ý kiến về khả năng sử dụng DESPITE, phụ thuộc vào họ có interpret được lực cản ngầm định hay không.
Tôi nghĩ là phân tích trên đủ để giải thích những điểm em thấy rối trong các ví dụ của thầy Simon.

Sau đó thì có một bạn phản hồi và tôi đã phản biện như sau (xem hình)
Như vậy khi tôi phân tích khác biệt giữa DESPITE vs. ALTHOUGH dựa trên yếu tố lực cản thì một bạn có đưa ra cách tiếp cận khác dựa trên khía cạnh chủ thể. Tôi phản biện bằng cách cung cấp một số ví dụ trích dẫn từ từ điển cho thấy giải thích của bạn chưa giải thích được những ví dụ này, trong khi giả thuyết lực cản của tôi rõ ràng vẫn áp dụng được.

Giờ mới quay lại tít đã giật 😉 Điều thứ 2 tôi muốn nói là hình như bạn chỉ mới theo dõi FB của tôi gần đây và comment đầu tiên của bạn (nếu tôi không nhầm) được screenshot ở dưới đây.

Khi đó tôi đã trả lời theo kiểu "lót tay lá chuối" mời đi luôn vì đơn giản là tôi không muốn nhận đối tượng học viên như vậy (và tôi tin rằng các thầy cô khác cũng sẽ có chung quan điểm).

Tôi không có vấn đề với việc bạn hỏi điểm giáo viên, nhưng cái cách bạn vào đề ngay câu đầu tiên đã không cho thấy thiện chí hay sự cầu thị của người muốn "tầm sư học đạo".
Nếu bạn có thể tiếp cận vấn đề nhẹ nhàng hơn theo kiểu "Em muốn học hỏi từ thầy. Thầy có thể chia sẻ quá trình học ngôn ngữ và trải nghiệm với các kỳ thi chuẩn" thì tôi chỉ cần đơn giản cho bạn đường link tới quãng đời học vấn của tôi trong đó có đầy đủ bằng chứng hình chụp về bằng cấp lẫn điểm thi (link liên quan xem trong profile Giáo Viên trên FAQ). Nói cho cùng, thay vì vừa bước chân vào cửa và chưa gì đã đặt vấn đề hoài nghi, bạn chỉ cần bỏ chút thời gian đọc FAQ sẽ thấy mọi thông tin bạn cần ngay trong mục Profile của giáo viên.
Tất nhiên những điểm số mà tôi chia sẻ đều từ thời tôi còn đi học như các bạn. Hiện tại, chả lẽ tôi còn cần chứng minh năng lực và trình độ của bản thân bằng cách hàng năm đi thi IELTS hay sao? Học trò của tôi, điểm IELTS (cả đầu vào lẫn đầu ra) 8.0 hay 8.5 thì giờ đã không thể nhớ hết, gương mặt trang bìa 9.0 cũng đã vài ba người. Những người như thế còn không nghi ngờ trình độ của tôi, sao bạn phải lo?
PS. Chết, hay là các anh chị ấy có nghi ngờ mà không tiện nói ra nhỉ 😉

Comments

Popular posts from this blog

Class FAQ

Lịch đăng ký và khai giảng lớp mới

Syllabus & Lesson plan của THIỂU