Hướng dẫn học viên phân tích ngôn ngữ

Question of the day: phân biệt một loạt từ mang nghĩa CẤM như FORBID vs. PROHIBIT vs. PROSCRIBE vs. BAN vs. BAR vs. DEBAR.

Học viên TẠP có truyền thống: khi lớp học một từ (hoặc cụm từ) nhất định thì "tiện thể" đưa thêm một loạt từ có nghĩa na ná chưa được đề cập trong lớp rồi đề nghị giáo viên phân biệt. Giáo viên nào đã từng phải đương đầu với dạng câu hỏi như vậy đều biết hỏi thì rất dễ (nhiều khi chỉ cần Google synonyms là ra cả đống), nhưng trả lời không hề dễ. Là giáo viên bản xứ hay không, bạn cũng không thể chỉ trả lời theo cảm tính, mà còn phải có logic rõ ràng để học viên hiểu và thấm được sự khác biệt trong cách từ.

Mỗi lần "va" phải câu hỏi dạng này (mà các anh chị ấy thấy tôi trả lời ngon quá lại cứ dấn hỏi thêm), khi không có nhiều thời gian, tôi thường yêu cầu học viên thu hẹp phạm vi câu hỏi. Ví dụ: đưa ra một ngữ cảnh cụ thể mà không chắc từ nào trong số các từ cần hỏi có thể dùng được (xem Hình 1).

Hình 1. Đề nghị học viên thu hẹp phạm vi câu hỏi

PS. Giải đáp vắn tắt câu hỏi trong Hình 1 về khác biệt giữa BIG vs. HUGE vs. LARGE: Với sắc thái IMPORTANT của ngữ cảnh liên quan thì BIG có nhưng LARGE thì không. Còn HUGE cũng có sắc thái này, nhưng ở tone [I] nhiều hơn. Vì thế HUGE là từ thích hợp nhất ở trường hợp trên về TMRND, but BIG still works.

Nếu tôi có thời gian và cả hứng thú (nhất là nếu có cơ hội áp dụng những kỹ thuật phân tích mà tôi tự phát triển trong quá trình giảng dạy), thì tôi sẽ trả lời kỹ và bao quát hơn. Một số trường hợp, tôi cố tình không đưa toàn bộ đáp án từ đầu mà gợi ý để học viên mày mò trước rồi bổ sung sau. Với học viên là giáo viên tiếng Anh và đang tìm đường ra nước ngoài học cao lên, việc thực tập phân tích như thế này rất có ích vì khi xin học bổng/liên lạc giáo sư, các bạn có thể gửi một vài linguistic analyses kiểu như thế này làm writing samples để bên kia thấy tiềm năng phát triển trong môi trường cao học/nghiên cứu của bạn.

Dưới đây là một case in point.

Question: phân biệt sắc thái FORBID vs. PROHIBIT vs. PROSCRIBE vs. BAN vs. BAR vs. DEBAR.

Thầy: Do PROHIBIT, PROSCRIBE và DEBAR có thể coi là [F] của FORBID, BAN và BAR (respectively) nên tôi chỉ cần tập trung vào 3 từ thuộc nhóm sau, có tone neutral và tần số sử dụng cao hơn.

Dưới đây là 3 cái lược đồ Cognitive mà tôi propose cho 3 từ trên. Em trổ tài phân tích như mọi khi cho tôi xem. Have at it. (xem Hình 2)
Hình 2. Lược đồ cognitive FORBID, BAN & BAR (version 1)

Học viên: Em đang hiểu dấu chấm ở giữa là đối tượng chịu tác động của động từ. Còn ô nét đứt, nét liền bên ngoài là society? Hoặc là lực tác dụng của Subject sử dụng động từ lên các đối tượng đó? Nét đứt = yếu; còn nét đậm = mạnh.

Nếu vậy,
1. Khi FORBID sb/sth, thì cái sb/sth đó bị cấm, nhưng mức độ cam kết yếu (e.g, nói miệng chứ không phải văn bản)— em thấy nó giống NOT ALLOW. Còn BAN sb/sth là chủ thể bị cấm, mức áp dụng, cam kết mạnh (văn bản).
Em có search thử để check xem Subject là tổ chức có quyền lực thì thế nào, thì thấy người có quyền hành thật sự mới dùng BAN (government, state, authority, school).
Nhưng đối với ‘the law’ thì người ta lại dùng FORBID nhiều hơn hẳn (xem Hình 3). Em cũng đang chưa biết giải thích sao. Em nghĩ chắc do FORBID nó tập trung nhiều hơn vào specific action?

Hình 3. Lược đồ tần số cho các chủ thể đưa ra lệnh cấm khác nhau

2. Khi dùng BAR, em cảm giác là mình không tập trung vào việc đối tượng bị CẤM, mà nhấn mạnh vào việc nó bị rào cản lại (giống như literal meaning của nó là hàng rào). Thì theo hình của thầy, các dấu X nó nằm ở ngoài rào chứ nó không thật sự cấm thằng đối tượng.

Thầy: đây là lần đầu tiên tôi bỏ thời gian ra để phân tích nhóm từ này nên có thể nó cũng vẫn còn lỗ hổng. Tôi sẽ thử kết hợp lối tiếp cận của cả Functional và Cognitive grammar như đã bàn ở THIỂU thử giải thích.

Từ góc nhìn Functional, ba động từ trên đều thể hiện process CẤM. Process này có participantsđối tượng ra lệnh cấm & đối tượng chịu tác động trực tiếp bởi lệnh cấm và các circumstantial factors mà cần chú ý ở đây là phạm vi mà lệnh cấm có hiệu lực.

Lối phân biệt truyền thống thường gặp ở các nguồn trên mạng là tập trung vào mức độ chính thức/thẩm quyền của lệnh cấm - chủ yếu soi vào đối tượng ra lệnh cấm (ví dụ cá nhân vs. tổ chức).

Cách phân biệt này đúng là có giải thích được dạng chủ thể nào thường đi với động từ nào (như mother với FORBID hay government với BAN - số liệu thể hiện bởi 2 lược đồ tần số phía trên của em).

Tuy nhiên, nó chưa giải thích được, như em tự thấy, hiện tượng FORBID dùng nhiều hơn cho LAW. Thêm vào đó, trong lối nói hiện đại, tôi hoàn toàn có thể dùng BAN theo kiểu đi ngược với truyền thống với sắc thái [I, H] một chút:
My wife said I am BANNED from the bedroom.

Ngoài ra, cần chú ý thêm là cũng không nên chỉ dựa vào lược đồ tần số vì còn ảnh hưởng của nhiễu - tôi chờ đợi là FORBID và BAN có tần số tuyệt đối (bất kể đi với chủ thể nào) cao hơn hẳn so với BAR (với nghĩa cấm). Còn chưa kể BAR (với vai trò động từ) còn nhiều nghĩa khác ngoài nghĩa cấm.

Để khắc phục những vấn đề đã nói ở trên, cần phải nhìn vào cả đối tượng chịu tác động (hoạt động bị cấm) và phạm vi hiệu lực của process CẤM. Ở đây

1. Đối tượng chịu tác động là hoạt động cụ thể bị cấm. Hoạt động này có thể kèm theo cả thực thể bị cấm (ví dụ HỌC SINH bị cấm HÔN NHAU - chỉ một dạng thực thể nhất định mới bị cấm) hoặc chỉ có duy nhất hành động (ví dụ HÚT THUỐC bị cấm - khi đó có thể hiểu là mọi thực thể đều bị cấm thực hiện hành động liên quan).

2. Phạm vi hiệu lực có thể là không gian, thời gian, lĩnh vực, demographic group hoặc một kết hợp của các yếu tố này.

3. Yếu tố như demographic group có thể đóng cả vai (1) lẫn vai (2) tùy theo cấu trúc ngữ pháp được sử dụng.
Nếu cấm một nhóm đối tượng làm gì (vd SINH VIÊN bị cấm biểu tình) thì nó nằm trong thành phần đối tượng chịu tác động.
Nhưng nếu một hoạt động bị cấm TRONG một cộng đồng cụ thể (vd BIỂU TÌNH bị cấm trong GIỚI SINH VIÊN) thì nó lại thành phạm vi hiệu lực.

Từ góc nhìn CogLing, tôi propose lược đồ như hình số 2 đã gửi, trong đó
1. dấu X đỏ đại diện cho process CẤM
2. dấu tròn đen đại diện cho đối tượng chịu tác động
3. hình chữ nhật bao quanh đại diện cho phạm vi hiệu lực.
4. đường viền càng đậm thì mức độ nhấn mạnh (foregrounding) càng cao. Đường viền nét đứt biểu thị thành phần liên quan không nhất thiết phải xuất hiện (optional).

Lược đồ trên cho thấy sự khác biệt giữa FORBID vs. BAN vs. BAR là thành phần nào của process CẤM được nhấn mạnh (foregrounded) nhiều hơn.
1. FORBID nhấn mạnh nhất vào đối tượng chịu tác động
2. BAR lại thiên hẳn là phạm vi hiệu lực
3. BAN có sự cân bằng qua lại giữa 2 bên

Khác biệt này thể hiện rõ nhất ở những trường hợp mà mới nhìn tưởng thiếu một trong hai thành phần.

1. Chỉ có đối tượng chịu tác động mà không có phạm vi hiệu lực.
Giả sử tôi nói

Smoking is FORBIDDEN.
Dù phạm vi hiệu lực ko có thì người nghe cũng không lăn tăn nhiều. Họ sẽ nghĩ rằng cấm nói chung (thường là by law/regulations) mà không cần phân biệt cho ai hay trong hoàn cảnh nào.

Nhưng nếu tôi nói
Smoking is BANNED.
thì người nghe vẫn thấy ổn, nhưng có khả năng kích hoạt suy nghĩ CẤM ở đâu thế và tìm cách suy diễn từ ngữ cảnh. Vd
Keep in mind whenever you fly: Smoking is banned. - phạm vi hiệu lực ngầm định: ON THE PLANE.

Nhưng nếu nói
Smoking is BARRED.
thì cảm giác sai sai vì, như đã nói ở trên, phạm vi hiệu lực đóng vai trò nổi bật trong lược đồ của BAR dẫn tới thành phần này được chờ đợi phải nói rõ hẳn ra thay vì suy ngầm như với BAN hoặc hoàn toàn không xuất hiện như với FORBID.
Smoking is BARRED to people under 21.
Nghe ổn hơn hẳn.

2. Chỉ có phạm vi hiệu lực mà không có đối tượng chịu tác động. 
Tôi lấy ví dụ một trường hợp mới được bàn tán trên news gần đây.

Ye (formerly Kanye West) is currently FORBIDDEN in the United Kingdom.
thì nghe sai sai vì hoạt động bị cấm cần được nói hẳn ra: Ye bị cấm thực hiện hoạt động gì.
Ye (formerly Kanye West) is currently FORBIDDEN to perform in the United Kingdom.

Mặt khác
Ye (formerly Kanye West) is currently BANNED in the United Kingdom.
Người đọc thấy ổn, nhưng vẫn cần nghĩ: anh ta bị cấm thực hiện hoạt động gì ẩy nhỉ và tìm cách ngầm suy từ ngữ cảnh. Vd banned from entering/performing/selling CDs: anh ta có thể bị cấm đặt chân đến, cũng có thể được đến nhưng bị cấm biểu diễn/bán đĩa v.v...

Ye (formerly Kanye West) is currently BARRED from the United Kingdom.
Dù không có ngữ cảnh để suy ra là bị cấm cái gì, người đọc vẫn có thể chấp nhận câu trên vì điều quan trọng là phạm vi hiệu lực đã được nêu rõ. Tôi có thể hiểu: Ye không được phép truy cập phạm vi này - lãnh thổ của UK (và khi đó đương nhiên không thể thực hiện bất kỳ hoạt động nào trong phạm vi liên quan).

Một điều nữa cần lưu ý: có một khác biệt nhỏ về bản chất của CẤM với BAR, xuất phát từ nghĩa đen "rào cản" của BAR, mà em cũng tự nhận thấy trong phân tích của mình.
Với BAR, CẤM được thực hiện nhờ dựng một rào cản vô hình quanh phạm vi hiệu lực và không cho phép đối tượng chịu tác động xâm nhập.
Ví dụ: cấm hút thuốc trong bếp.
Với BAN có thể hình dung: nếu bạn đang trong phạm vi bếp, bạn không thể bật lửa châm thuốc.
Với BAR có thể hình dung: bạn đang phì phèo điếu thuốc thì bạn không thể đi vào phạm vi cái bếp.

Sự khác biệt này chỉ là technical, và không có nhiều ý nghĩa thực tế vì kết quả cuối cùng đều là: không được hút thuốc trong bếp. Nhưng học viên có thể cần biết để hiểu rõ hơn tại sao lược đồ cognitive của các động từ liên quan lại được vẽ như trên.

Học viên
Em đang suy nghĩ cái mô hình Cogling ở trên, nếu mình làm rõ, tách đối tượng và hành động ra thì sao ạ? do rõ ràng mình thấy 1 thằng tập trung đối tượng nhiều hơn, thằng kia tập trung phạm vi nhiều hơn. Phạm vi thì hình có thể hiện nét đứt/đậm, còn hành động thì hình chưa thể hiện được ạ.

Thầy
Tôi cũng lăn tăn về thành phần ĐỐI TƯỢNG CHỊU TÁC ĐỘNG - có nên tách ra thành 2 - hành động bị cấm và thực thể bị cấm thực hiện hành động hay ko. 

Với FORBID và BAN, nhiều trường hợp thì chỉ có hành động bị cấm, còn những trường hợp khác thì lại có cả hai. Riêng trường hợp với BAR - thì lại có thể ẩn hoàn toàn hành động bị cấm nhưng khi đó lại cần nhắc đến thực thể bị cấm. Rốt cuộc động từ nào cũng đưa vào thành phần ĐỐI TƯỢNG CHỊU TÁC ĐỘNG, nhưng cấu hình nội tại của thành phần này lại có thể thay đổi tùy ngữ cảnh. Chưa kể, như đã phân tích ở trên, thực thể bị cấm lại còn có thể biến hình thành phạm vi (tùy theo cấu trúc ngữ pháp được sử dụng).

Lý do tôi chưa tìm cách thay đổi ngay là vì càng đưa vào nhiều thứ, lược đồ càng phức tạp, khó nhớ cho người học và đó cũng ko phải là điều hay. Ngoài ra, lược đồ vẽ như hiện tại cũng đã tạm thời giải quyết được các luận điểm tôi đưa ra nên tôi suy nghĩ kỹ hơn xem nên thế nào.

Học viên
Như này thì sao ạ? Loa là ‘imposer’, tròn là HÀNH ĐỘNG BỊ CẤM, stickman, và màu đỏ là thứ mình cần tập trung khi thực hiện process CẤM. Các nét đứt là những thứ có thể implicitly hiểu hoặc explicitly state (xem Hình 4).

Em thấy giữa BAN/FORBID và BAR có vẻ khác về góc nhìn của 'imposer'.

Với BAN/FORBID, THỰC THỂ THỰC HIỆN LỆNH CẤM luôn là thằng mà người nghe/đọc có thể ngầm hiểu được trong trường hợp cả 2 đều dùng được. Hơn nữa, nó và thằng HÀNH ĐỘNG đều nằm trong cái phạm vi nhất định mà ‘imposer’ tưởng tượng. Vậy nên, trong trường hợp chỉ dùng được 1 trong 2, mình chỉ cần tập trung phân biệt phạm vi hiệu lực hoặc hành động.

Còn BAR, em nghĩ nó khác ở góc nhìn của ‘imposer’. Lúc này, thằng THỰC THỂ nó nằm bên ngoài, còn cái HÀNH ĐỘNG nó nằm bên trong rào cản. Em thấy quan trọng của thằng BAR là việc THỰC THỂ hoặc HÀNH ĐỘNG bị rào cản, nên chỉ cần 1 trong 2 thằng có là được (em chưa biết vẽ sao nên em vẽ cả 2 là nét đứt).

Em cảm giác nếu tách THỰC THỂ ra thì nó rõ ràng hơn việc chỉ có 1 cục tròn = đối tượng hành động. Nó giải thích được rõ hơn cho việc mình thấy kì khi dùng 'Ye is forbidden' ạ.

Hình 4: Mô hình sửa đổi đề nghị của học viên



Thầy
Good idea. Ý tưởng để thực thể và hành động ngăn cách bởi X - vừa đóng vai trò khoanh phạm vi, vừa đóng vai trò rào cản đúng là giúp giải quyết được điều mà tôi vẫn lăn tăn. Như vậy tôi có thể cải biên lại mô hình ban đầu như hình 5 (tôi tạm thời chưa đưa IMPOSER vào vội).

Hình 5. Lược đồ cognitive FORBID, BAN & BAR (version 2)

Trò
Kaka finally one good idea. Ngồi phân tích vậy mệt thật thầy ạ.

Thầy
Mệt nhưng thú vị đúng không. Nó giúp em hình dung cụ thể một quá trình phân tích ngôn ngữ cần thiết với giáo viên hay các nhà ngôn ngữ học ứng dụng. Nó cũng hướng cho em sau này viết tiểu luận/bài báo/bài trình bày hội thảo nên như thế nào.

Một cấu trúc thường gặp là

Đầu tiên nêu vấn đề (Introduction): sự cần thiết phải phân biệt các nhóm từ đồng nghĩa mà nonnative speakers hay bị lẫn, mà một trường hợp cụ thể (case study) là FORBID vs. BAN vs. BAR.

Rồi đến Literature Review: phân tích ưu và nhược của cách phân biệt truyền thống. Rồi các công cụ ngôn ngữ - khung lý thuyết để giúp phát triển mô hình mới (trích dẫn kiến thức liên quan từ Functional & Cognitive Grammar)

Sau đó là đề xuất mô hình mới, rồi phân tích cho thấy mô hình này không chỉ giải thích được dữ liệu trích xuất từ các nguồn như corpus/Ngram v.v... mà còn khắc phục được những tồn tại của cách giải thích truyền thống như thế nào (Methodology & Analysis).

Rồi đến kết luận (Conclusion) thì nhấn mạnh vào kết quả đạt được và thành tựu (không chỉ giúp giải quyết vấn đề cụ thể phân biệt FORBID vs. BAN vs. BAR) mà còn đề xuất một hướng đi mới - kết hợp kiến thức từ 2 trường phái grammar khác nhau để phát triển lược đồ giúp phân biệt các nhóm từ đồng nghĩa (Results & Implications).

Cũng đừng quên thừa nhận những hạn chế (Limitations) của mô hình đề xuất, lý do tại sao chưa giải quyết (được) những hạn chế này và kế hoạch tiếp tục trong tương lai.

Nhiều khi một lý do để lại những hạn chế (mà ko nói ra) là tác giả cố tình giữ cơ hội viết tiếp bài thứ 2, thứ 3 cải tiến dần dần mô hình đề xuất - tăng số lượng bài được viết. Hoặc phiên bản đầu thì dùng để trình bày hội thảo, phiên bản nâng cấp hơn (chẳng hạn lúc đó em có thể tích hợp thêm thành phần IMPOSER mà em đề cập ở trên để tận dụng cả thế mạnh của lối tiếp cận truyền thống) thì gửi đăng tạp chí v.v...

Comments

Popular posts from this blog

Class FAQ

Lịch đăng ký và khai giảng lớp mới

Syllabus & Lesson plan của THIỂU